Lăng Kinh Dương Vương – Nơi thờ Thủy tổ người Việt

Hàng năm, cứ mỗi độ tết đến xuân về, hàng ngàn vạn “con Hồng cháu Lạc” từ khắp mọi miền lại tìm về khu di tích đền thờ và lăng mộ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, thuộc thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, để tri ân và thờ phụng những bậc thủy tổ dân tộc có công khai mở nước.

Nội dung chính

1. Lăng Kinh Dương Vương ở đâu

Lăng Kinh Dương Vương tọa lạc tại ấp Phúc Thần, làng Thần Thủy, nước Xích Quỷ (nay là thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) vẫn còn được ít người biết đến. 

Ngôi đền thờ và lăng mộ Thủy Tổ bình dị, khiêm nhường tọa lạc trên một khu đất bãi ven bờ ở ngoài đê, cách thức dòng Đuống ngày nay khoảng 500m. Lăng xưa, rợp bóng đại thụ, tạo cảnh quan tĩnh mịch, uy nghiêm. Thời thuộc Pháp khu lăng bị tàn phá trơ trụi, mãi đến năm 1971, nhân dân thôn Á Lữ mới có trường hợp quy hoạch và tôn tạo khang trang, thông thoáng mà vẫn đậm đặc dấu ấn của kiến trúc cổ.

Biển chỉ dẫn vào Lăng Kinh Dương Vương

Á Lữ là một làng cổ nằm sát bờ Nam sông Đuống, truyền rằng là đất hội tụ của “Tứ linh” với 99 cái ao, 99 cái gồ, được ví như Long, Ly, Quy, Phượng chầu về, nơi duy nhất có lăng mộ và đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ là những bậc thủy tổ có công mở nước. Lăng Kinh Dương Vương nằm ở trên bãi bồi cao rộng thoáng sát bờ Nam sông Đuống và sầm uất bởi rừng cây cổ thụ bao quanh.

Lăng Kinh Dương Vương được ghép toàn bộ bằng đá xanh, kiến trúc đơn giản theo kiểu chồng diêm tám mái, tám đao dốc, nền lăng được tôn cao, xung quanh có tường rào bảo vệ. Mặt trước Lăng nhìn ra sông Đuống, có bậc đá lên xuống sát mép nước, tiếp đó là 4 trụ cổng tam môn bằng đá xanh cao vút với đôi rồng đá uốn mình, đầu ngẩng cao chầu vào và những trụ đèn lồng hai bên cánh phong đắp nổi hình những cư dân Việt cổ săn bắn, hái lượm như ta thường thấy trên mặt trống đồng.

Đền Kinh Dương Vương nhìn từ trên cao

2. Lăng Kinh Dương Vương thờ ai

Xưa kia, hai ngôi đền cổ ở phía Tây làng Á Lữ thờ phụng Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ (Đền Thượng thờ Kinh Dương Vương, đền Hạ thờ Lạc Long Quân và Âu Cơ), có quy mô kiến trúc to lớn, chạm khắc trang trí “tứ linh, tứ quý” lộng lẫy. Về phía Đông lăng Kinh Dương Vương xưa còn có một ngôi chùa có tên chữ là “Đông Linh Bát Nhã tự” thờ các đức “Thánh mẫu thủy tổ” là Vụ Tiên, Thần Long và Âu Cơ.

Mặt trước khu di tích hướng ra con sông Đuống

Thủy tổ Kinh Dương Vương còn được thờ làm Thành Hoàng làng thôn Á Lữ. Ngôi đình cổ ở phía Đông làng được khởi dựng với quy mô to lớn gồm 2 tòa: Tiền tế 7 gian và Đại đình có 5 gian tiền đình và 3 gian hậu cung, bộ khung gỗ chạm khắc “tứ kinh tứ quý” lộng lẫy. Hệ thống thần phả sắc phong của đình và đền đã cho biết rõ người được thờ là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ, có công khai sơn sáng thủy.

Việc thờ cúng Kinh Dương Vương ở Việt Nam không thông dụng bằng tín ngưỡng thờ cúng Thần Nông, vị thần là cụ thủy tổ của Hùng Vương đồng thời là vị thần rất được sùng bái trong tín ngưỡng nông nghiệp ở Việt Nam; được những triều đại phong kiến lập Đàn Xã Tắc để tế lễ hàng năm.

Cổng vào Lăng Kinh Dương Vương

3. Kinh Dương Vương là ai

Đền thờ Kinh Dương Vương tọa lạc phía trong đê. Tại gian tiền tế có hai bức đại tự: “Nam bang Thủy Tổ” (Ông Tổ nước Nam) và “Thần Tiên Thiên tử” (con của Thần, Tiên và Trời). Gian hậu cung có 3 ngai thờ. Ngai giữa thờ Kinh Dương Vương với bức đại tự: “Nam bang Thủy Tổ” (Ông Tổ nước Nam; Phía bên phải thờ Lạc Long Quân với bức đại tự: “Hải khoát sơn tràng” (Sông rộng, núi dài); Bên trái thờ Âu Cơ với bức đại tự: “Bách Việt Tổ” (Tổ Bách Việt) và một số hoành phi, câu đối chữ Hán.

4 cây cột trước cổng Lăng Kinh Dương Vương

Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng, vào năm 1840 thời vua Minh Mệnh, lăng được trùng tu Kinh Dương Vương có nguồn gốc từ phương Bắc. Nguyên Đế Minh là cháu bốn đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, cưới Vụ Tiên nữ, sinh ra người thiếu niên tư chất thông minh, sức mạnh hơn người, đặt tên là Lộc Tục và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, cai trị đất nước khoảng từ năm 2879 TCN …

Những cụ cao niên làng Á Lữ, nơi nghìn đời nối nhau giữ gìn, hương khói lăng mộ và đền thờ Thủy Tổ Kinh Dương Vương cho biết, nhân dân địa phương còn giữ được hàng chục sắc phong của những vương triều phong kiến, qua đó khẳng định nơi đây là lăng tẩm bậc đế vương, hàng năm thờ phụng theo nghi lễ quốc khánh, có quan triều đình về làm chủ lễ. Thần phả làng Á Lữ cũng ghi, Lộc Tục là một trang nam nhi có tư chất thông minh, tài đức hơn người.

Lối vào lăng mộ

Sau khi được vua cha phong làm vua phương Nam, Lộc Tục thành lập bộ tộc Dâu, đóng lỵ sở tại Liên Lâu (Luy Lâu, nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), đặt Quốc hiệuViệt Thường, xưng Kinh Dương Vương, lấy Long Nữ là con gái Động Đình Quân, đẻ ra Sùng Lãm. Năm 2789 (TCN) đổi Quốc hiệu là Xích Quỷ (tên một ngôi sao có màu đỏ, sáng nhất trong 28 ngôi sao trong Nhị thập Bát Tú), rồi mất.

Sùng Lãm nối ngôi vua cha, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kết duyên cùng Âu Cơ, sinh ra một trăm người thiếu niên, trong đó người con cả tiếp tục được truyền ngôi, lấy hiệu là Hùng Vương (vua mạnh). Sau, Hùng Vương thấy đất Luy Lâu trống trải, thắng thì có chỗ xông lên, nhưng thua thì không có đất lùi, mới dời lên Nghĩa Lĩnh (Phong Châu, Phú Thọ), có thế ỷ dốc, dựng đô, đổi Quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ. Bộ quê nhà gọi là bộ Vũ Ninh và truyền được 18 đời…

Khuôn viên khu lăng mộ

Kinh Dương Vương mất ngày 18 tháng Giêng (không rõ năm) tại trang Phúc Khang, bộ Vũ Ninh (nay là thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Để tưởng nhớ Tổ tiên, hàng nghìn đời nay, vào ngày giỗ Kinh Dương Vương (18/1 âm lịch hàng năm), dân làng Á Lữ lại mở hội để tưởng nhớ đến người đã khai sinh đất Việt, cũng là việc tri ân những bậc Vương Tổ đã sinh ra vua Hùng, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Năm 2013, tỉnh Bắc Ninh quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị quần thể di tích lịch sử văn hoá quốc gia Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương đi kèm những dịch vụ phụ trợ để phát triển du lịch văn hoá tâm linh, nâng tầm lễ hội, xứng với vai trò, vị trí lịch sử của những người được phụng thờ tại đây: Đức Kinh Dương Vương – người khai thiên lập quốc, vị Thủy Tổ của toàn dân tộc Việt.

Mộ phần được bảo vệ phía trong lăng

4. Lịch sử Lăng Kinh Dương Vương

Khu lăng Kinh Dương Vương tọa lạc ở ngoài đê, cách dòng Đuống ngày nay khoảng 500m. Lăng xưa, rợp bóng đại thụ, tạo cảnh quan tĩnh mịch, uy nghiêm. Thời thuộc Pháp khu lăng bị tàn phá trơ trụi, mãi đến năm 1971, nhân dân thôn Á Lữ mới có trường hợp quy hoạch và tôn tạo khang trang, thông thoáng mà vẫn đậm đặc dấu ấn của kiến trúc cổ.

Lăng kinh dương vương có 8 mái “hai tầng mái”, trước cửa lăng mộ có 3 bệ thờ, trên đường vào về phía tay phải khu lăng mộ có ngôi nhà để hành khách sắp lễ…

Toàn bộ diện tích khu Lăng kinh dương vương khoảng 4200m2. Nghi trượng khu lăng mộ gồm: Tấm bia đá xanh cao 1,05m, rộng 0,45m, mang dòng chữ “Kinh Dương Vương lăng” bia khắc năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) tháng 11, ngày 16 dựng xong lăng; trước lăng có đại tự “Nam bang thủy tổ” và câu đối “Việt nam sơ đầu xuất – Hồng bàng vạn đại xương” “Lập thạnh kỷ công nam thánh tổ, Phong thần tổ tích bắc thần tôn”, cùng một số bát hương sành, sứ cỡ to hoa văn cổ kính…

Khuôn viên Lăng

Kinh Dương Vương được nhân dân Á Lữ tôn thờ ở đình làng (đình bị Pháp phá năm 1949), đền trong thờ Lạc Long Quân, đền ngoài thờ Âu Cơ (hai đền đều bị Pháp phá năm 1949). Năm 1959, nhân dân Á Lữ rước ba vị về thờ ở khu văn chỉ (nơi thờ hiện nay). Đền hiện nay gồm ba gian xây cất kiểu chữ công, nhà ngoài (tiền tế) gồm 5 gian, đủ để lập những ban thờ và tiếp đón hành khách thăm viếng, có tường gạch xung quanh để bảo vệ, diện tích khu đền khoảng 2347m2.

Ba gian trong – gian giữa có long ngai sơn son thếp vàng đặt trên bệ thờ Kinh Dương Vương, gian bên trái có ngai đặt trên bệ thờ Âu Cơ, gian phía bên phải có ngai đặt bệ thờ Lạc Long Quân, song song với hệ thống nghi trượng bằng đồng, gỗ, sứ khá phong phú như: mâm đồng, đỉnh, lư hương, ống hoa, thau rước nước, chiêng…

Lạc Long Quân nối đời Hồng Bàng lấy con gái họ Âu Lạc mà có điềm lành sinh trăm thiếu niên, tổ của những người Bách Việt thực bắt đầu từ đấy, hưởng nước trải nhiều năm, rất là lâu dài, đã giàu thọ lại nhiều thiếu niên từ xưa tới nay chưa từng có, Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long, chăm ban tước huệ để vỗ yên dân…”

Khu lăng mộ Kinh Dương Vương

Tôn trọng sự thật lịch sử, ngày 2/2/1993, Bộ Văn hóa truyền thống – Thông tin ra quyết định số 74/VH-QĐ công nhậnDi tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành”.

 Dù cho chiến tranh tàn phá, bão lũ hủy hoại, nhân dân Á Lữ luôn bảo trọng, tôn tạo khu di tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương để nhân dân trong làng và hành khách thập phương quanh năm hương khói và tụ hội ( từ 15 đến 18 tháng giêng âm lịch hàng năm) dâng hương bái lạy tiên tổ biểu thị truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”.

Di tích lịch sử lăng và đền Lăng Kinh Dương Vương khẳng định Bắc Ninh là vùng đất người Việt cổ sớm tụ cư – cái nôi chốn tổ của đất Việt. Và làm phong phú thêm kho tàng lịch sử xứ Bắc cổ kính và văn hiến; sáng rõ thêm cội nguồn dân tộc Việt Nam.

Bức đại tự: “Nam bang Thủy Tổ”

5. Lăng Kinh Dương Vương hiện nay

Mặt trước khu di tích lăng Kinh Dương Vương hướng ra con sông Đuống quanh năm mang phù sa màu mỡ tươi tốt về cho vùng quê Kinh Bắc.Đến nay, kiến trúc khu lăng mộ Kinh Dương Vương gồm: Cổng Lăng kinh dương vương , qua cổng lăng đi thẳng vào là phần mộ vua Kinh Dương Vương, hai bên tả hữu là bốn nhà Văn chỉ, Võ chỉ và nhà khách. Xung quanh bốn bề cây xanh xanh mát.

Lăng nằm bên dòng sông Đuống

Đã hàng trăm năm nay, cứ đến ngày 18.1 (âm lịch) là người dân làng Á Lữ song song với nhân dân xung quanh lại tổ chức lễ hội Kinh Dương Vương nhằm tưởng nhớ đến vị vua đầu tiên của nước Việt, Đại đế Lạc Long Quân và Hoàng hậu Âu Cơ.

Lăng Kinh Dương Vương – Nơi thờ Thủy tổ người Việt
Chúng tôi đón chào email đăng ký từ khắp nơi và không bao giờ spam
luxstay

luxstay

Cẩm nang các địa điểm du lịch và lễ hội tại Việt Nam

Bài viết cùng chủ đề

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tour Miền Trung